Chương 3
Kẻ đầu cơ và gái điếm
Ý nghĩa của chương
Qua sự đối chiếu giữa nhà đầu cơ và gái điếm, Taleb đặt ra câu hỏi: một kết quả có bị giới hạn bởi số giờ một người có thể làm, hay một ngoại lệ có thể vượt xa mọi kết quả thông thường? Phân biệt hai miền này giúp ta biết khi nào số trung bình còn có ý nghĩa và khi nào nó che khuất sức nặng của một vài kết quả hiếm.
Chương cũng nhắc rằng khả năng nhân rộng không chỉ mở ra phần thưởng rất lớn; nó đồng thời khiến kết quả khó đoán và tập trung vào số ít người thắng. Tiềm năng cao vì vậy không đồng nghĩa với cơ hội thành công cao.
Những ý tưởng cốt lõi
Taleb dùng hai miền biến động để chỉ ra vì sao cách cộng gộp quen thuộc có lúc hữu ích, có lúc lại khiến ta đánh giá thấp ngoại lệ. Từ đó, ông nối đặc điểm của một miền với cách thu nhập được tạo ra trong từng nghề.
Có miền mà số đông quyết định, có miền mà ngoại lệ lấn át
Trong Mediocristan, một quan sát riêng lẻ thường không đủ sức làm thay đổi lớn tổng thể; trong Extremistan, một trường hợp có thể chiếm phần rất lớn của tổng. Vì thế, tính chất của đại lượng đang xét quan trọng hơn thói quen dùng một con số trung bình.
Ví dụ 1. Thêm một người vào đám đông, tổng thể đổi bao nhiêu?
Minh hoạ cho: Mediocristan và Extremistan
| Mediocristan | Extremistan | |
|---|---|---|
| Một quan sát | Ảnh hưởng có giới hạnMột người thường không khác xa đến mức lấn át mọi người khác. | Có thể rất khác biệtMột cá nhân có thể lớn hơn nhiều lần so với mức thông thường. |
| Cả tổng thể | Số đông định hình tổngTổng thể ít bị thay đổi bởi một quan sát đơn lẻ. | Ngoại lệ làm lệch tổngMột vài kết quả có thể chiếm phần lớn tổng; trung bình dễ gây hiểu nhầm. |
Giả sử ta cân 1.000 người rồi thêm người nặng nhất vào phép tính; cân nặng của một người thường không làm tổng thay đổi nhiều. Nhưng nếu cộng tài sản của 1.000 người rồi thêm một tỷ phú, tổng tài sản có thể tăng vọt.
- Cân nặng cá nhân có giới hạn sinh học tương đối hẹp.
- Tài sản có thể chênh lệch nhiều bậc giữa các cá nhân.
- Vì vậy, cùng một thao tác “thêm một người” có thể có ảnh hưởng rất khác tùy đại lượng.
Ý của tác giả: Trước khi tin vào số trung bình, hãy hỏi liệu một ngoại lệ có thể lấn át các quan sát còn lại hay không.
Ví dụ 2. Một người thắng chiếm bao nhiêu phần của cả nhóm?
Minh hoạ cho: Sức nặng của ngoại lệ trong tổng thể
Ví dụ minh họa| Mục | Giá trị |
|---|---|
| Người thứ 100 · kết quả 200Tổng: 10.100 đơn vị | |
| Người thứ 100 · kết quả 50.000Tổng: 59.900 đơn vị |
Giả sử 99 người đều tạo ra 100 đơn vị. Ở phép tính thứ nhất, người còn lại tạo 200 đơn vị; ở phép tính thứ hai, người ấy tạo 50.000 đơn vị.
- Ở trường hợp thứ nhất, người nổi bật đóng góp khoảng 2% tổng.
- Ở trường hợp thứ hai, người đó đóng góp khoảng 83,5% tổng.
- Các con số chỉ là ví dụ số học để so độ tập trung, không mô tả một ngành cụ thể.
Ý của tác giả: Trong miền có ngoại lệ lớn, một kết quả riêng có thể làm thay đổi cách ta hiểu cả tập hợp.
Nghề có thể nhân rộng mở ra phần thưởng lớn nhưng phân bố kết quả rất lệch
Một công việc bị giới hạn bởi thời gian và sức lực thường có trần sản lượng dễ hình dung hơn. Với sản phẩm hoặc quyết định có thể phục vụ thêm nhiều người mà không cần lặp lại cùng mức lao động, kết quả có thể nhân rộng; nhưng điều đó không bảo đảm ai làm cũng thành công.
Ví dụ 1. Một giờ làm thêm tạo thêm bao nhiêu lượt phục vụ?
Minh hoạ cho: Khả năng mở rộng của công việc
- 1Tạo một tác phẩmVí dụ: viết, ghi âm hoặc làm phần mềm.
- 2Nhân rộngPhân phối thêm mà không cần làm lại toàn bộ từ đầu.
- 3Tiếp cận nhiều ngườiPhạm vi có thể lớn hơn thời gian lao động trực tiếp.
Giả sử một người làm dịch vụ trực tiếp có thể phục vụ tối đa tám khách trong ngày; một người khác tạo một bài giảng ghi sẵn rồi phân phối cho nhiều lớp.
- Công việc trực tiếp thường cần thêm thời gian cho từng lượt phục vụ.
- Bài giảng ghi sẵn có thể được dùng lại, dù vẫn cần công sức tạo và duy trì.
- Phạm vi tiếp cận lớn không cho biết trước có bao nhiêu người sẽ chọn sản phẩm.
Ý của tác giả: Khả năng nhân rộng làm phần thưởng tiềm năng ít bị buộc chặt vào số giờ làm, nhưng cũng khiến kết quả khó đồng đều.
Ví dụ 2. Cùng một sản phẩm, phạm vi tăng nhưng công sức tạo ban đầu không đổi?
Minh hoạ cho: Sản lượng có thể nhân rộng
Ví dụ minh họaTrục dọc: giờ công · Trục ngang: Số lượt tiếp cận
Xem bảng số liệu
| Số lượt tiếp cận | Phục vụ trực tiếp | Tạo nội dung một lần |
|---|---|---|
| 1 | 1 | 8 |
| 8 | 8 | 8 |
| 40 | 40 | 8 |
| 100 | 100 | 8 |
Giả sử một khóa học đã ghi hình mất tám giờ để chuẩn bị. Trong phép tính đơn giản này, số lượt xem tăng từ 1 lên 100 nhưng không làm thay đổi thời gian sản xuất ban đầu.
- Đường của công việc trực tiếp tăng theo số lượt phục vụ.
- Đường của nội dung ghi sẵn giữ nguyên ở tám giờ tạo ban đầu.
- Ngoài đời, phân phối còn có thể đòi hỏi hỗ trợ, cập nhật và chi phí khác.
Ý của tác giả: Một công việc có thể nhân rộng làm tăng quy mô kết quả có thể đạt tới, chứ không xóa bỏ sự bất định hay đảm bảo thành công.
Áp dụng vào trading
- Xem thị trường như miền có thể bị ngoại lệ chi phối. Đừng để một mức trung bình che khuất khả năng một phiên hoặc một vị thế gây phần lớn lãi lỗ.
- Đọc phân bố kết quả, không chỉ nhìn giao dịch thắng lớn. Đặt kết quả nổi bật cạnh toàn bộ lịch sử lệnh và xem nó chiếm bao nhiêu trong tổng.
- Nếu theo đuổi mức sinh lời có thể nhân rộng, giới hạn phần vốn có thể mất. Quy mô phần thưởng tiềm năng không cho biết xác suất thành công.
Áp dụng vào cuộc sống
- Hỏi điều gì đang tạo ra kết quả của mình: số giờ trực tiếp hay một sản phẩm, kỹ năng, quy trình có thể được dùng lại.
- Tách tiềm năng khỏi xác suất. Khi chọn con đường có phần thưởng rất lớn nhưng kết quả tập trung, chuẩn bị phương án nếu mình không nằm trong nhóm thắng.
- Đừng lấy một ngoại lệ làm chuẩn cho tất cả. Khi đánh giá nghề nghiệp hay thu nhập, xem cả nhóm kết quả thay vì chỉ nghe câu chuyện của người thành công nhất.